Wednesday, May 23, 2012

Võ Thị Điềm Đạm * Điệu luân vũ bên bờ Donau



Trăng mười bốn lơ lửng trên không, nghiêng mình ngắm nhìn dòng sông Donau êm ả chảy dài. Ánh trăng ưng ửng trải mình trên những tàn lá xanh mướt nõn nà đọng chút sương đêm vừa bám. Gió xuân khe khẻ như sợ đưa đẩy làn mây mỏng từ xa đến, phá đi nét êm ả ánh trăng non. Dựa hờ thành ban công, Johann thẫn thờ nhìn chóp nhà thờ thành phố Wien bên kia bờ sông, xa xa mơ huyền trong ánh đèn phố thị đêm chưa muốn ngủ. Lòng lâng lâng nao nao như muốn tìm kiếm, tìm kiếm một hình ảnh, một biến cố, một âm hương tự đáy sâu tâm tư thôi thúc chàng từ khi ánh trăng mười bốn lên cao dần. Chàng quay trở vô, theo một thúc đẩy vô hình nào đó, không lưỡng lự, chàng chọn ngay cây đàn gia truyền mà cha chàng đã trao khi chàng được mười hai tuổi. Cây đàn gia truyền chàng thôi không mang theo trong các buổi hòa nhạc từ mười năm nay. Lớp gỗ nâu đỏ ửng bóng theo dấu tay chàng nhạc sĩ qua tháng ngày miệt mài trong tiếng nhạc. So lại bốn dây đàn trong nỗi náo nức vô tưởng đeo đuổi đã khiến chàng phải hủy bỏ buổi dạo tối với những người bạn, rút về thế giới riêng mình. Gát nhẹ bầu đàn bên phần thấp vai trái, tựa cổ và cằm, nghiêng nghiêng mái tóc nghệ sĩ chảy dài, đẩy âm C cao vút. Bước chân đưa chàng trở ra ban công. Dòng sông Donau bạc màu dưới ánh trăng mười bốn, luân lưu lững lờ.
Xa xa, ẩn hiện trong hàng cây dọc bờ sông, tà áo huyền ảo ai đó lướt theo cơn gió xuân nhẹ hướng về bãi cỏ dưới đồi. Không lưỡng lự, chàng lần theo đường mòn, đi xuống. Bước chân càng lúc càng thôi thúc, cái cảm giác nao nao từ nãy giờ càng lúc càng rõ ràng. Những ngón tay bỗng dưng đưa nhịp nhàng một điệu vals trên cung đàn thánh thoáng uyển chuyển theo từng lay động làn lụa mỏng càng lúc càng gần. Đôi môi hồng phấn như mỉm cười thì thầm lời yêu đương tự kiếp nào. Ánh mắt nâu đen thăm thẳm như đẩy đưa mời gọi bước chân chàng nghệ sĩ. Hai cánh tay vươn dài đong đưa theo điệu nhạc như thúc đẩy những ngón tay chàng nghệ sĩ nhịp nhàng hơn. Đôi chân trần nhón nhanh nhẹ lướt trên lớp cỏ nhung như muốn rủ rê chàng nghệ sĩ cùng theo vào cõi sương đêm. Dừng bước chân đẩy đưa, hai tay vịn hờ làn lụa mỏng, người thiếu nữ nhẹ nhúng người, ngửng cao gương mặt trắng hồng, tỏ ý chào. Trong tâm trạng hư hư thực thực, chàng hỏi:
- Nàng từ đâu đến?
Đôi môi hồng phấn mỉm nụ cười đậm đà. Không gian ngưng đọng, giọng thoang thoảng như từ nơi nào đó phát ra:
- Tiên Đế không nhớ thiếp sao?
Ánh trăng mười bốn chợt mờ vì một áng mây theo làn gió kéo qua. Không gian đăm đẵm hương cỏ sương lẫn trong hương trầm nhang, âm ẩm, lộng trong âm thanh hun hút gió xuân đêm. Mái tóc đen mượt dài hờ hững rơi trên đôi vai thuông thả, phủ che tấm lưng thon, vòng hoa cúc trắng trên đầu. Người thiếu nữ nửa như xa lạ nửa như thật gần tự kiếp nào mong manh. Chàng nghệ sĩ không còn là mình nữa, ánh mắt ngây ngây không tưởng, hỏi:
- Nàng là ai?
- Thôi để thiếp ngâm câu thơ này:
Ở đây mến cảnh mến thày
Tuy vui đạo Phật, chưa khuây lòng trần...*
Một làn sống lạnh buốt lưng, giọng trầm trầm xa vắng, Johann ngâm tiếp:
Gió thông đưa kệ tan niềm tục
Hồn bướm mơ tiên lẫn sự đời...*
- Giáng Tiên! Giáng Tiên!
- Vâng. Thiếp đây! Một đêm trăng mười bốn như đêm nay, nơi chùa Ngọc Liên năm xưa...
- Người ni cô còn để khói trần ai vướng trên đôi má ửng hồng vì ánh mắt ta ngây dại. Và ta, vị Tiên Đế, đã để cho cái nhan sắc vân tưởng y thường hoa tưởng dung** lấn chiếm hồn thơ, bất chấp lễ nghi trong thiên hạ, ta đã mời nàng ngồi cùng xe về cung. Nhưng Giáng Tiên nàng ơi, tại sao, tại sao nửa đường nàng tan mất theo khói mây trời, không cho ta được quyện cùng nàng trong khúc nhạc ái ân?
- Không phải vì thiếp, không phải ý Tiên Đế, mà đó hồn thơ của thi nhân gặp duyên mỹ nữ, hồn thơ đã đưa Tiên Đế thoát khỏi cái ước muốn trần tục tầm thường.
- Đúng như thế đó, Giáng Tiên! Và cũng từ đêm ấy, hồn thơ trong ta không còn bị gò bó theo những dòng thơ khẩu khí luôn mang một dụng ý dạy bảo chốn Tao Đàn. Duyên tình không trọn với nàng đã khơi rộng bể thơ lai láng trong ta, tâm hồn ta thanh thoát theo từng ý thơ tha thiết, vượt khuôn tắc...
- Tiên Đế có biết chăng, chính cái hồn thơ lai láng bất tận đó đưa thiếp vượt khỏi cái hạn hẹp của thời gian, thiếp được siêu thoát... Và Tiên Đế cũng có biết chăng? Những đêm trăng mười bốn bàng bạc vườn hoa, hồn thiếp nương theo lời thơ Tiên Đế ngâm vang trên Vọng Tiên Các, len lõi vào lòng thế nhân, đã lắng sâu trong lòng nhân gian, hồn thơ trở nên vĩnh cữu. Cái diễm phúc vĩnh cữu đó khó mà mai một.
- Và để tên nàng, Giáng Tiên, được đời đời gắn liền với hồn thơ... Nhưng Giáng Tiên nàng ơi! Đêm nay, cũng đêm trăng mười bốn, nàng tìm đến ta, có phải nàng muốn...
- Vâng! Thiếp muốn... Thiếp muốn lấy khúc luân vũ gợi lên dòng nhạc trong hồn Tiên Đế, tặng thế nhân cung nhạc ngàn đời. Tiên Đế hãy vì thiếp mà tiếp tục.
Vừa dứt lời, người thiếu nữ vươn hai cánh tay trần nõn nà tung lớp lụa xanh như mây trời. Mảnh xiêm y chỉ là tấm lụa to tròn, khuyết một vòng ở giữa vừa đủ bao ngấn cổ vươn cao. Màu xanh nhạt chỗ đục chỗ trong, chất lụa óng ả rũ bao toàn thân người thiếu nữ lúc ẩn lúc hiện. Khối ngọc ngà khi tỏ khi mờ. Chân trần không chấm đất, lướt nhẹ nhàng khi cao khi thấp, khi nhanh khi chậm, hoà nhịp uyển chuyển với cánh tay. Cả thân hình cử động mờ ảo dưới lớp lụa mong manh tơ trời. Không chờ nhắc lần thứ hai, Johan nhấc nhẹ cung đàn. Điệu vals lúc nhặt lúc thưa, quấn quýt bước chân người thiếu nữ quay tít không ngưng. Đêm hân hoan tiếng nhạc. Đêm lồng lộng cung đàn. Mái tóc dài đen mượt mà óng ả ánh trăng mười bốn thoáng vờn môi chàng. Làn lụa mong manh tơ trời vuốt nhẹ gương mặt chàng say đắm. Hương trầm thanh thoáng quyện hồn chàng mê hoang.
Đêm trăng thấp dần. Cung đàn thánh thoáng. Sương đêm đẵm vai. Phiếm nhạc hạnh hoan. Bước chân nàng lướt nhanh về vườn hoa lục giác. Cánh tay nàng vươn dài dưới làn lụa mỏng mời gọi. Vai dựa vai. Lưng dựa lưng. Lớp lụa tơ trời loãng tan. Bước chân nương nhau trong điệu luân vũ tha thướt. Điệu nhạc đắm đuối nương theo lúc nhặt lúc khoan. Âm thanh hòa nhịp quấn quyện. Cơn mê hoang cùng nhịp xoay. Má kề má. Mắt trong mắt. Tay nâng tay. Đắm đuối không rời. Say sưa không ngưng theo âm vang cung nhạc vọng lại từ những tàn cây sồi già quanh biệt thự...
Sáng sớm hôm sau, người nhà tìm thấy Johann gục ngủ, tay trái cầm cây fioline gia truyền, tay phải giữ hờ cần kéo, nằm giữa vườn hoa lục giác. Quá quen với mực sống khi thực khi hư của chàng nghệ sĩ trẻ tài ba dưới khung trời Wien huyền hoặc, lão hầu Stephan vực đưa chàng về phòng, để yên chàng trong giấc ngủ thật bình an.
Nắng ngày chói chang chiếu qua mành cửa, mở mắt, lắng nghe, lắng tìm, chàng nghệ sĩ như vẫn còn mê đắm trong cơn mơ đẵm sương đêm. Chợt nhớ ra, bước nhanh xuống giường, chàng vội vã lấy bút viết ghi lại cung nhạc đêm qua. Nốt nhạc khi thoang thoáng, khi rời rạc, chỗ trống chỗ dư, không thành lời. Hoang mang, chàng nâng cây đàn, đẩy nhẹ. Lúc thiết tha, lúc háo hức, khi ngập ngừng, khi ngượng ngập, không trọn vẹn. Buông người trên giường, chàng nghệ sĩ đắm chìm, cố sống lại phút hân hoan, cố tìm kiếm trong tâm tưởng... cho đến khi người hầu mời chàng xuống dùng bữa trưa. Cả buổi chiều, trong tâm trạng nửa mơ nửa tỉnh, nửa háo hức, nửa hoang mang, Johann chờ đợi ánh trăng đêm lên dần, hy vọng mong manh... 
 
***
Trăng mười lăm rực rỡ huy hoàng như thánh đố một vài đám mây lững lờ xa xa. Dòng Donau bàng bạc lặng lờ trôi, vô tình trước nỗi lòng chàng nhạc sĩ háo hức mong chờ. Cây đàn gát tựa hờ bên ngấn cổ, tay khẻ đưa đẩy lần tìm cung đàn đêm nao, mái tóc nghệ nhân nghiêng nghiêng, Johan dõi mắt kiếm tìm tà áo ai lẫn trong những tàn cây cao dọc bờ sông. Trên sông, một vài chiếc thuyền con trôi chầm chậm, trôi như không muốn tìm đến bến bờ, trôi như hoà nỗi lòng đôi tình nhân níu kéo giây phút bên nhau trong khoang thuyền. Trăng rằm lên cao, vằng vặc, đưa cung đàn tìm dần về lối nhạc dìu dặc lưu luân đêm hôm qua. Cung đàn nức nỡ nỗi lòng đợi chờ một làn tơ xanh không tưởng. Cung đàn réo rắt gọi kêu làn lụa xanh mong manh tơ trời.
Cung đàn bậc tung cao. Hương cỏ đêm chợt nồng nàn. Mãi ngóng tìm, ánh mắt đăm đăm xa vời, ngực Johann bỗng nghẹn cứng khi vài cọng tóc mềm vờn nhẹ gương mặt chàng trong điệu Vals xoay tít. Chàng không dám ngưng đẩy đưa cung nhạc. Tự trong tiềm thức sâu thẳm thôi thúc những ngón tay chàng lay động lên xuống không ngừng trên bốn sợi dây căng cứng, theo nhịp áo thướt tha. Chàng sợ, sợ tà áo tơ trời tan biến khi tiếng nhạc ngưng vang. Mê mẫn theo bước chân trần lướt dài trên thảm cỏ, ngẩn ngơ theo đôi cánh tay trần vươn dài dưới làn lụa xanh, đắm đuối theo ánh mắt đen u ẩn, háo hức nương theo mái tóc đen mướt dợn sóng buông lơi... chàng nhạc sĩ như lạc vào cõi thiên thai ngập ánh trăng mười lăm vàng trong. Đôi môi người thiếu nữ mấp máy gọi kêu. Tiếng gọi kêu loãng mất trong tiếng nhạc. Âm thanh nức nỡ lộng theo gió xuân, tan biến trên dòng Donau. Cung nhạc im thinh. Tà áo thôi tung. Gương mặt ngẩng cao. Ánh mắt đen đăm đẵm rọi sâu vào lòng chàng nghệ sĩ như muốn xoáy tìm. Johann hoảng hốt:
- Sao lại là nàng? Giáng Tiên đâu rồi? Giáng Tiên... Giáng Tiên...
Johann kêu trong nỗi đau thất vọng dần dờ. Giọng người thiếu nữ nghèn nghẹn như giận hờn:
- Chàng không nhớ thiếp sao?
- Nàng là ai? Giáng Tiên đâu?
- Chị Giáng Tiên của vầng trăng mười bốn. Chị Giáng Tiên của dòng thơ vĩnh hằng. Đêm nay đêm trăng rằm chàng ơi! Đêm trăng mười lăm. Đêm của thiếp. Ánh trăng rằm trọn vẹn như tình ta ngày xưa. Ánh trăng do chính tay chàng tạo nên. Ánh trăng vằng vặc do ngọn bút chàng điểm tô...
Khối óc tan loãng, chàng nghệ sĩ lạnh người, lẩm bẩm:
- Phường Bích Câu... ánh trăng rằm... ông già bên dòng sông Tô Lịch... Giáng Kiều! Giáng Kiều nàng ơi!
- Vâng, thiếp đây. Thiếp là Giáng Kiều của vầng trăng mười lăm. Giáng Kiều của bức tranh Tố Nữ bên án thư ngày nao. Thiếp là Giáng Kiều của chàng thư sinh áo lam tuấn kiệt Tú Uyên. Thiếp nhờ ý nguyện khát khao bao tháng ngày của chàng mà thoát khỏi cuộc sống trong tranh để được tiếp nhận sinh khí kiếp người, được ngập chìm trong hạnh phúc hương nồng đắm say trần tục.
Lòng thổn thức vương lẫn hương tình những đêm xa xưa trong căn nhà tranh đơn sơ, dưới giàn thiên lý, chàng nghệ sĩ trẻ lấp bấp không ra lời:
- Giáng Kiều... Giáng Kiều... đôi ta... Không, tình đôi ta không trọn vẹn như ánh trăng mười lăm vàng trong. Một lựa chọn đớn đau cùng tận... Nàng tan mất, tan mất... ta mất nàng... Không, tình ta không trọn vẹn...
- Không, Tú Uyên chàng ơi... Chàng không mất thiếp. Chàng đã đưa thiếp vào cõi thời gian tuyệt đối... Lời ông già, ý nguyện chàng thành khẩn...
Johann thì thầm như chỉ cho chính mình:
- Giữa một người đẹp đào tơ mơn mởn và một nét họa trong tranh, giữa một cái nhất thời tương đối và cái tuyệt đối bất chấp thời gian, sự lựa chọn sẽ vô cùng đau xót... Người đẹp chẳng qua chỉ là phương tiện. Thể hiện cái đẹp trong tranh mới là cái đích cuối cùng...*
- Vâng, chàng đã lựa chọn, nét bút phong thần của chàng đã giúp thiếp đi vào lòng dân gian, đi vào lòng tuyệt đối của thời gian... Nét bút vươn tung thay lời thơ lai láng, màu mực chấm phá thay áng văn lồng lộng...
- Nét diễm kiều não lòng của nàng trong bức tranh đi vào lòng thời gian tuyệt đối...
Giọng Johann trở nên háo hức:
- Nhưng Giáng Kiều... Giáng Kiều... Đêm nay cũng đêm trăng mười lăm vằng vặc, nàng trở lại với ta, nàng đáp lại bước chân ta lang thang mê hoang tìm kiếm trong đớn đau bao kiếp đời. Ôi có phải hạnh phúc đã trở lại với ta? Ta...
- Không... chàng ơi! Đêm nay đêm mười lăm. Vầng trăng mười lăm tiếp nối vầng trăng mười bốn. Bước chân thiếp nối tiếp điệu vũ Giáng Tiên. Cung nhạc đêm qua chưa trọn, phiếm đàn đêm qua còn nhiều vấn vương, nốt nhạc đêm qua còn nhiều trống không, điệu luân vũ đêm qua đang mong chờ bước chân thiếp.
Mảnh xiêm y thướt tha lay động, màu xanh lụa mỏng quấn bước chân trần nhón lướt trên nền cỏ mềm, hương cỏ non quyện trong hương thiên lý đẵm ướt sương đêm, hương hoa táo quyện trong hương hoa cau thanh khiết, biến khung trời Wien bên dòng Donau thành chốn Bích Câu huyền ảo. Mảnh xiêm y cũng chỉ là một giải lụa mong manh tròn lớn rũ phủ toàn pho tượng ngọc ngà uyển mềm. Nhưng màu xanh ngát ngời hơn màu xanh tơ trời đêm qua. Như mê, bốn ngón tay chàng nghệ sĩ nhảy múa trên dây cung theo nhịp đẩy đưa. Đêm bừng bừng tiếng nhạc. Đêm say sưa điệu vũ. Đêm hân hoan ánh mắt không rời. Cung nhạc nâng vùng ngực nàng căng cứng. Phiếm tơ vuốt ve làn da nàng mịn ấm. Cánh tay trần nuỗng nà kéo dây đàn chàng thiết tha tan loãng. Cặp đùi thon dài tung cao theo điệu vũ thúc dục phiếm đàn háo hức bực tung, chìm đắm...
Đêm càng thấp, điệu luân vũ càng thiết tha, cung tơ đàn càng háo hức. Bước chân người thiếu nữ chuyển dần, chuyển dần đến cây cầu gỗ cong. Tiếng đàn dập dờn đuổi theo. Dựa thanh cầu, người thiếu nữ ưỡn lưng thả buông mái tóc đen mượt gợn sóng, hai tay buông thỏng theo mái tóc dài, gương mặt ửng hồng ngẩng cao dưới ánh trăng, ánh mắt đen thiết tha muốn nói lời thì thầm, đôi môi hồng cam căng mọng gọi mời... Johann cúi xuống. Môi tìm môi đẵm ướt đêm hoang tận… Phía đông, ánh hồng cam ưng ửng hững hờ lên dần, lên dần.
Sáng hôm sau, lão hầu thân tín tìm thấy chàng nằm nghiêng người trên cầu ván gỗ cách tòa bìệt thự gần một tiếng đi bộ. Má chàng áp vào phía sau bầu đàn bóng loáng được hai tay nâng kề. Gương mặt như cười trong giấc mộng hoang. Đưa chàng về phòng, tháo giày, đặt chàng lên giường phủ màn mỏng nhẹ, lão hầu mỉm cười lắc đầu với ánh mắt thương yêu, nhón gót đi ra thật nhẹ để chàng nghệ sĩ trẻ tài hoa nhiều đam mê được tiếp tục giấc mộng liêu trai.
Bàn tay mềm vuốt nhẹ cánh áo rộng, môi ấm khẻ hôn vầng trán phẳng, Helene gọi:
- Johann, thức dậy đi anh. Anh quên đón em đi dạo thuyền, anh đã hứa. Em chờ năm phút nữa thôi đó, em sắp giận rồi. Anh hư lắm, đêm qua đi chơi khuya quá phải không?
Johann mở mắt, gương mặt Helene trắng hồng nổi bậc dưói mái tóc nâu đậm mướt vờn trên má. Hương thơm hoa táo tươi mát quen thuộc kéo chàng khỏi giấc mơ hoang tưởng. Ôm kéo đầu nàng sát vùng cổ ấm, những ngón tay nghệ sĩ lòn vào mái tóc dầy. Mắt vói nhìn, cây violin trên bàn viết nằm như chờ đợi, như thúc dục. Johann nhắm mắt, lắc đầu, cố đánh tan dư hương đêm sương còn đọng đâu đây, cố chôn vùi mặt trong mái tóc nâu dày tìm quay về với Helene. Bất lực, nhìn thẳng sâu đáy mắt nâu trong, Johann nhẹ nhàng:
- Helene, đừng buồn, anh phải tiếp tục nguồn cảm ứng cho bản nhạc dang dở. Anh phải tiếp tục, anh sẽ cho người đến đón em, không biết khi nào, nhưng anh sẽ đưa em đi chơi thuyền, đừng giận anh...
- Có phải những nốt nhạc lở dở trên bàn? Em đã xem qua, em không tìm được cung đàn, em không tìm được nét liên kết... Vâng hãy tiếp tục, đến đón em, em muốn thưởng thức... Hãy tiếp tục, chàng nghệ sĩ tài hoa của em. Đừng bận tâm, em sẽ đi dạo với các bạn. Hứa với em, em sẽ là người đầu tiên được thưởng thức nhạc phẩm mới này. Em về đây.
Hôn trán người yêu trong nỗi háo hức muốn ngồi ngay vào bàn, muốn ghi nhanh nốt nhạc còn đọng trong tâm tưởng. Những nốt nhạc tuôn tràn không ngưng, chấp nối cung đàn hôm qua, khỏa lấp phiếm nhạc lưng chừng... So lại dây đàn, mắt nhắm hờ, bốn ngón tay nhảy nhót, bàn tay phải uyển nhuyển nhấc đưa. Chàng nhạc sĩ thả hồn trong điệu vũ luân lưu, đắm chìm theo tà lụa mong manh tơ trời, ngợp bơi trong mảnh xiêm y xanh biếc quay nhanh... Sao còn những nhón chân đôi lúc ngập ngừng? Sao còn một vài vươn tay chưa đủ dài? Sao đuôi mắt đen buồn còn đọng giọt sương đêm? Chàng nhạc sĩ lần bước đến khung cửa sổ, phóng tầm mắt ra xa, bầu trời xanh ngát không một cợn mây. Thiên thanh da trời hòa với xanh ngàn dòng sông Donau, đàn thiên nga trắng nuốt nhẹ nhàng bơi điểm tô nét đẹp thiên nhiên thanh thoát. Johann lẩm bẩm: "Còn thiếu, còn thiếu màu xanh, màu xanh tà lụa mỏng, màu xanh bầu trời Wien hài hòa cùng dòng Donau, còn thiếu... Chưa vinh danh được toàn vẹn tà lụa mỏng ngát ngời trong điệu luân vũ đăm đẵm sương đêm viên miễn. Làm sao đây? Giáng Tiên ơi, Giáng Kiều ơi, hãy cho ta nguồn cảm hứng dịu vợi kia, hãy ban phát cho ta nguồn hứng khởi hân hoan âm hưởng kia... Ôi, lòng ta khao khát... Ôi, tim ta mở rộng đón mời... Ôi những ngón tay ta chơ vơ mong chờ nội lực từ khối óc ta tan loãng... Ta bất lực, Giáng Tiên ơi! Ta tan hoang, Giáng Kiều ơi!"
Dừng chân bên vườn hoa lục giác, lắng nghe tiếng đàn từ lầu cao vọng vang, Helene mỉm cười, nói với mình: "Ôi âm hưởng lúc dìu dịu, lúc háo hức tuyệt vời... nhưng... có cái gì đó không trọn vẹn, nét thanh xuân như vấn vương làn mây xám, âm phiếm trong thanh như vướng mang nghèn nghẹn. Hãy xóa tan làn mây xám ấy Johann nhé, hãy cho phiếm nhạc trải dài luân lưu như dòng Donau, hãy cho cung đàn đắm chìm trong màu xanh vời vợi bầu trời thành phố Wien của chúng ta, Johann nhé."
 
***
Bầu đàn dựa ngấn cổ, cánh tay đẩy đưa, Johann đi tới đi lui trên sân thượng, mắt ngóng mong nắng ngày xuống dần, dịu dần. Cả ngày không ăn, ghi ghi chép chép, xé bỏ, cung đàn dạo tới dạo lui, càng lúc chàng nghệ sĩ trẻ càng hoang mê trông ngóng, trông ngóng một ảo hình trong ánh trăng mười sáu.
Dòng Donau long lanh dưới ánh trăng mười sáu rực vàng ngạo nghễ trên cao. Không mang nét e ấp chần chờ của ánh trăng tiên nữ mười bốn, không mang nét dịu ngọt đầm thấm của ánh trăng diễm ảo tố nữ mười lăm, trăng mười sáu mang nỗi lòng háo hức được phô trương toàn vẹn nét đẹp thiếu nữ đương xuân trong vòng tay người tình. Trăng mười sáu làm ngập lòng thi nhân. Trăng mười sáu làm nét bút lông phất nhanh trên khung lụa mỏng. Trăng mười sáu thúc đẩy phiếm đàn rạo rực niềm đam mê. Gió xuân lay lay, cung nhạc mơn man, bước chân chàng nhạc sĩ hoang dại kiếm tìm.
Hương ngọc lan thoang thoảng, những ngón tay nhung mềm che mắt, giọng cười khúc khích nghịch ngợm bên tai, hơi thở nhẹ vờn vờn sau gáy. Tim ngưng đập, óc ngưng đọng, những ngón tay ngưng đẩy đưa, Johann xoay nhanh người. Tà áo xanh vươn cánh tay ẩn mờ mời gọi. Mảnh lụa rũ mềm đêm nay xanh ngát ngời. Mái tóc mượt dài vàng sáng được điểm tô bằng vòng hoa hồng tường vi vừa hé nụ, óng ả buông lơi từng lọn nhỏ lọn nhỏ. Trực diện chàng nhạc sĩ, tà áo thiên thanh tơ trời ngưng lay đọng, lưng người thiếu nữ ưỡn thẳng, vươn cao đôi ngực cứng nhọn dưới làn lụa nửa đục nửa trong. Kéo một chân ra phía sau, một chân hơi khụy, đôi bàn tay vịn nhẹ tà áo bên hông, ngẩng mặt, hơi nhún người, chào Johann. Johann thì thầm:
- Giáng Tiên... Giáng Kiều... mỹ nữ... Nàng đáp lòng ta thành nguyện... Nàng là ai?
Giọng thánh thoáng như cung nhạc luân lưu sáng nay, người thiếu nữ trong làn lụa xanh ngời ngời mỉm cười, chân trần đẩy đưa, cánh tay nhịp nhàng uyển chuyển, mái tóc vàng óng ánh lay lay trong gió xuân ngàn:
- Em là Giáng Ngân. Đêm nay đêm mười sáu. Đêm của Giáng Ngân. Đêm của cung nhạc phiếm đàn.
- Giáng Tiên... Giáng Kiều... Giáng Ngân... ánh trăng mười bốn của lòng thơ bát ngát... ánh trăng mười lăm của nét bút phong thần... ánh trăng mười sáu của cung đàn luân lưu. Đêm trăng mười bốn thoang thoảng trầm hương nơi chùa Ngọc Liên. Đêm trăng mười lăm ngập lụn ái ân quấn quyện hương thiên lý nơi phường Bích Câu. Đêm nay đêm trăng mười sáu... hương ngọc lan đăm đẵm sương đêm dưới vòm trời Wien... Nàng từ đâu đến?
- Vâng, em là nối tiếp của vầng trăng mười bốn ngập ngừng, em là nối tiếp của vầng trăng mười lăm hân hoan, Giáng Ngân là kết tinh của vòm trời Wien xanh ngát với dòng Donau ngời ngời xanh biếc trong giây phút đất trời giao hoan. Hãy nâng cung đàn. Hãy đưa phiếm nhạc. Hãy vinh danh nét tuyệt hảo hợp hòa của khung trời lãng mạng và dòng sông trữ tình. Hãy vinh danh vòm trời ngân hoan của thành phố Wien và bước luân vũ của đoàn mỹ nữ theo dòng sông Donau luân lưu. Cung đàn Johann đêm nay sẽ vinh danh điệu luân vũ Vals, điệu vũ của những đêm vũ đường vương giả người dân Wien, của chúng ta.
- Vâng, Giáng Ngân... Phiếm nhạc đêm nay quấn quyện tà áo lụa thiên thanh ngời ngời của vòm trời Wien trôi chảy trên dòng Donau. Cung đàn đêm nay tràn ngập điệu luân vũ ngàn đời. Và em, Giáng Ngân của cung đàn phiếm nhạc, của khúc luân vũ mê hoang, sẽ đi vào lòng nhân gian, sẽ đi vào thời gian vô tận, sẽ đi vào khoảng đất trời vô viên.
 
***
Âm điệu nhẹ nhàng thiết tha văng vẳng từ khung trời huyền hoặc, dần dần sống động, háo hức, để rồi ngập mát tâm hồn hàng trăm quan khách trong buổi hòa nhạc hoàng gia vào giữa thế kỷ thứ mười chín tại thủ đô Wien. Điệu luân vũ Vals mang âm hưởng dòng Donau xanh ngời ngợi đã đưa thính giả lạc vào khung trời tuyệt mỹ của thiên nhiên. Những âm hưởng mới lạ quấn quyện tung cao, thướt tha, trầm lắng, ngân hoan. Nhịp Vals say sưa liên viễn đã vượt không gian, đã thoát tung cái hạn hẹp của thời gian, đã trở thành khúc nhạc không bao giờ thiếu trong buổi hoà tấu ngày mồng một mỗi năm tại sánh đường hòa tấu quốc gia thành phố Wien. Hàng trăm triệu thính giả toàn thế giới đón chờ buổi hòa tấu đầu năm này, đón chờ đoàn tiên nữ tung bay trong điệu luân vũ xanh ngời ngợi, đón chờ đàn thiên nga trắng toát vươn cao đôi cánh giỡn đùa trên dòng Donau tuyết băng xanh biếc.
 
Võ Thị Điềm Đạm
 
Lời người viết:
Câu chuyện được hư cấu từ âm hưởng nhạc khúc An Der Schonen Blaunen Donau của Johann Strauss 2. và truyện ngắn Người Đẹp Trong Tranh của Vũ Khắc Khoan.
* Vũ Khắc Khoan
** Lý Bạch

LUÂN HOÁN * Bướm Bay Thơm Thuở Sách Đèn




chẳng rõ lòng thương chính xác ai
sân trường trắng nõn những áo dài
tà bay tà rũ tà tay nắm
tà ửng vàng hườm hương nắng mai

tình vốn lao chao nhiều bóng hồng
tóc thề tóc kẹp tóc garçon
mắt nâu lấp lánh tròn mắt biếc
môi tẩm hương lài môi mật ong

một dạo si mê Nhỏ xóm Chùa
tan trường lững thững bám nắng trưa
bụi bay cay mắt lo quên dụi
đi lén sau lưng ngỡ được đưa...

theo Bé quận ba liền nửa năm
bàn tay vịn nón, làm sao cầm ?
chưa tìm phương kế làm quen được
qua ngõ mỗi ngày, khó ghé thăm!

vọng mỹ nhân hoài chẳng hụt hơi
thay nhiều thần tượng, nhớ khơi khơi
em quay đầu ngó, lòng hoảng hốt
giả bộ nghiêm trang ngóng đất trời

nhát gái hình như được trời thương
lai rai vai vắt ít hoa hường
suốt thời đèn sách may không tệ
dại gái đương nhiên chuyện bình thường

Luân Hoán
10-5-2012

Friday, May 18, 2012

TRẦN VĂN NAM * BAY CAO TRÊN ÐƯỜNG HÀNG HẢI GỐM SỨ


tranh Lương Trường Thọ

Nếu đã từng đi bằng chuyến bay hãng hàng không Eva hay China Airlines, sau hai giờ rời khỏi không phận Ðài Loan thì chúng ta sẽ bay dọc dài duyên hải quê hương, chỉ hơn một giờ nữa là đến không phận Sài Gòn.
Dù buổi trưa trời trong sáng, nhưng lục địa đất nước ta lúc nào cũng mây đùn che khuất tầm mắt, chỉ những hải đảo hiện ra rõ nét đang nằm im lìm dưới biển xanh; hải đảo màu mạ non viền bằng những vành sóng trắng.
Ðảo Cù Lao Chàm ngoài khơi Ðà Nẳng, hình củ khoai thắt eo ở giữa, nơi đáy sâu có thuyền chìm chưa trục vớt, sẽ là kho tàng nhiều cổ vật cho biết chủng tộc nào hằng bao thế kỷ trước đã mượn đường ven bờ tránh bão.
Hòn Cù Lao Ré ngoài khơi Quảng Ngãi hình dạng con diều giấy đang bay trên bằng phẳng mặt biển thay vì trên trời; cũng có thuyền xưa chìm vì không may khi vừa rời bến, chưa xuất cảng mà đã vùi chôn bao cổ vật thủy tinh của văn hóa Sa Huỳnh thuộc chủng tộc Chàm vốn giỏi nghề hàng hải.
Kế đến, đảo Phú Quý ngoài khơi mũi Kê Gà Phan Thiết; mũi đất nhọn sắc nét khi nhìn xuống từ máy bay; đảo hình tam giác hiện ra rất lâu vì máy bay đang theo một vòng cung lớn hướng vào châu thổ sông Ðồng Nai.
Rất tiếc, máy bay đã vào không phận Sài Gòn, bỏ xa ngoài khơi Côn Ðảo; cũng không bay sâu về mũi Cà Mau là nơi cũng có thuyền chìm thời đầu Công Nguyên mang theo nhiều cổ vật văn hóa La Mã- Ấn Ðộ- Ba Tư, những con thuyền trên đường định mệnh đến Óc Eo hải cảng.
Dấu vết của đường hàng hải gốm sứ còn ghi dấu bằng di vật tiền nhân rải rác từ vương quốc Phù Nam băng ngang qua vịnh biển Rạch Giá, đổ bộ lên eo đất hẹp Kra của Thái Lan để lấy đường tắt đi vào Ấn Ðộ Dương.
Có phải đường hàng hải gốm sứ đã đưa trống đồng Ðông Sơn chu du cùng khắp, cập bến từ mấy ngàn năm trước vào Indonesia, Mã Lai, Thái Lan; hay là vì đồ vật văn hóa đó dễ phổ biến nhờ ngày xưa thềm lục địa Ðông Nam Á còn là vùng đất liền Sundaland trải dài đến quần đảo Sulu Phi Luật Tân; rồi sau đó bỗng cấp kỳ lục địa Sundaland chìm bởi cơn Ðại Hồng Thủy.
Bằng chứng là những đền đài dưới đáy biển ven đảo Yonaguni phía cực Nam nước Nhật; bằng chứng chung lục địa là tiếng nói cùng nguồn cội Austronesian phân bố rộng từ thổ dân Ðài Loan đến chủng tộc Chàm cùng những cư dân các hải đảo Polynesia; bằng chứng là tê giác Java tại sao còn xuất hiện trong rừng Ðồng Nai; bằng chứng là tục ăn trầu cùng chuyện kể Sơn Tinh-Thủy Tinh na ná giống nhau từ Âu Lạc đến các hải đảo Thái Bình Dương.
Phải cần Ðức Tin mới thấy trận Ðại Hồng Thủy là một Khải Huyền Phán Xét; nhưng đường hàng hải gốm sứ thì rõ ràng là hiện thực vì ven bờ nước ta những xác thuyền chìm vẫn đang dật dờ đã mấy trăm năm nơi nhiều vực biển.        
TRẦN VĂN NAM

TRẦN KIÊN ĐOÀN * Trí Quang Tự Truyện: Không vẫn hoàn không

Trong đạo lập thân của người xưa – lập công, lập đức, lập ngôn – thì lập ngôn thường được cho là quan trọng nhất, vì đó là phần “hình nhi thượng”, là tinh hoa tư tưởng cá biệt của một dòng đời mang tính truyền thừa lâu dài và sâu xa cho hậu thế. Người đem hết năng lực tinh thần và tri thức của đời mình để lập ngôn thì thành nhà tư tưởng, triết gia. Người đem chất liệu đời mình để viết lại thì thành tác giả tự truyện, hồi ký. Người đem tiểu sử đời mình ra đánh bóng, trang hoàng, rao bán thì thành nhà… chính trị kinh doanh! Nhưng dẫu ở mức độ nào thì cũng khó lòng đem ra so sánh, cân đo khi không có cùng mẫu số. Cũng đều xuất phát từ con người làm điểm tựa, nhưng sẽ thiếu công bằng nếu đem những tứ đại kỳ thư, những áng kim cổ hùng văn hay thiên hạ danh văn để so với những bài thơ Thằng Bờm có cái quạt mo, những bài ca dao truyền miệng… vì mẫu số chung của cảm tính văn nghệ chẳng tương đồng. Tuy nhiên, trong ý nghĩa tinh túy nhất mà cũng rất thường tình của nhân sinh, “cái thích” hay sự cảm thụ và sáng tạo văn chương nghệ thuật thì không ai giống ai vì cái ngã sở chắn đường bít ngõ theo lối mòn một chiều“có thì có tự mảy may, khi không cả thế gian này cũng không!”. Từ đó dẫn tới cái thương, cái ghét càng lúc càng xa với những gì hiện thực “thương ai thương cả đường đi, ghét ai ghét cả tông chi họ hàng!”
Tác phẩm nghệ thuật thường được ví von như những cơn mưa. Có những trận mưa – mưa rào, mưa tình, mưa pháp – mà con người và muôn vật được hưởng lợi lạc hay phải chịu đựng cơn mưa phù hợp với căn tính của từng đối tượng: Con dế mèn ca hát rát cổ hưởng được một giọt mưa ngọt lịm; con chim non bị ướt tổ lạnh run; con kiến cỏ bị chết trôi chới với; người nông dân có được nước đầy đồng… Chẳng ai giống ai. Bởi vậy, mọi giá trị của vạn vật đều tương đối. Nhưng trong tương đối đã có sẵn một điều tuyệt đối, đó là sự khác biệt và đồng nhất đều cùng một thể: “Không lại hoàn không!”

Và, đó cũng là kết luận của “Trí Quang Tự Truyện”. Đây là một tác phẩm hồi ký của hòa thượng Thích Trí Quang, một danh tăng Phật giáo thế hệ Chiến tranh Việt Nam đang bước vào độ tuổi 90.
Có thể nói mà không phải dè dặt rằng, trong số các hồi ký của những nhân vật lịch sử, trong cũng như ngoài nước, có liên quan đến dòng lịch sử Chiến tranh Việt Nam thì hồi ký của thầy Trí Quang là một trong những tác phẩm được chờ đợi nhiều nhất.
Văn chương tự cổ không bằng cớ, nên khen hay chê tự nó không quan trọng mà quan trọng là mức độ khách quan, công bằng và tính trong sáng của sự khen chê. Và, quần chúng nói về một đối tượng sao bằng chính đối tượng được nhắc nhở đó tự nói về mình. Trí Quang Tự Truyện là những điều thầy Thích Trí Quang tự nói về mình.
Từ đầu năm 2011, tuy đã được đọc các bài giới thiệu và trích đoạn của tập sách nầy trên mạng lưới truyền thông nhưng mãi đến khi về thăm quê vào tháng 3-2012 tôi mới đọc được bản chính toàn tập. Sách dày 216 trang, nhà xuất bản Tổng Hợp tại Sài Gòn. In 3000 cuốn, xong ngày 22-7-2011. Tác giả viết xong ngày 24-4-2011. Sách không chia thành chương, mục mà được phân thành 47 đoạn viết theo lối hồi ức, tự truyện. Không có một hình ảnh nào minh họa từ bìa đến nội dung.

Trí Quang Tự Truyện đã gây ra những luồng phản ứng tuy không sôi nổi theo kiểu… “siêu sao”; nhưng tương đối rộng rãi đối với quần chúng trong cũng như ngoài nước; đặc biệt là đối với giới trí thức và Phật tử lớn tuổi đã từng sống trong chiến tranh và trải nghiệm thực tế qua những biến cố lịch sử đầy thăng trầm của đất nước. Đa số bày tỏ sự thất vọng vì hồi ký không “ngang tầm” với tác giả. Người ta chờ đợi một thiên hồi ký có “tầm vóc thời đại”. Nghĩa là những pho sách dày với những công bố phơi bày nhiều bí ẩn lịch sử, những “giải mã” sự kiện còn nằm trong góc khuất, những lý giải hùng hồn về các hiện tượng đầy thâm cung bí sử, những biện minh đầy thuyết phục nỗi oan khuất của đạo pháp và dân tộc, những chứng lý rạch ròi thân phận nhược tiểu trên bàn cờ quốc tế… Nghĩa là với tầm vóc của một nhân vật tu sĩ Phật giáo đã từng là khuôn mặt trung tâm cho cuộc tranh đấu đòi tự do, bình đẳng tôn giáo của Phật giáo năm 1963 và những cuộc biểu tình đòi cải cách chính trị thời 1966 đã làm chấn động Việt Nam và dư luận thế giới như thầy Thích Trí Quang thì sẽ có cả một kho tàng dữ liệu và vô số lý giải cho cả một thời kỳ đầy biến động chiến tranh, chính trị và xã hội để viết ra trong hồi ký. Thêm vào đó, thầy Trí Quang còn là tác giả, dịch giả, luận giả uyên bác và đáng tin cậy của nhiều tác phẩm Phật học nội điển và luận thư trong khoảng 70 năm qua. Bề dày của những công trình biên dịch và tham luận có giá trị là những điều kiện “ắt có và đủ” cho một tác phẩm hồi ký lớn của Thầy ra đời. Hoặc ít lắm thì cũng là những hồi ức đầy “thương hiệu thành danh” của ta và của người vào hàng Retrospect của Robert McNamara hay Political Memoirs của Malcom Fraser… và của nhiều nhân vật danh tiếng Việt Nam đã xuất bản chẳng hạn.
Nhưng Trí Quang Tự Truyện đã thanh thản ra đời như một cô gái Việt chân quê trên diễn trường hoa hậu quốc tế làm cho người ta ngạc nhiên.

Những ngày mưa tháng Hai của Huế, lên chùa Châu Lâm không cách xa chùa Từ Đàm là mấy, được ăn cơm chay với thầy Thiện Phước trong vườn lan đủ màu tự trồng, tự tưới của Thầy, trưa vào nghỉ ở nhà tịnh của chùa và đọc Trí Quang Tự Truyện nguyên bản in của anh Trần Tuấn Mẫn báo Văn Hóa Phật Giáo gởi cho, tôi cảm thấy an tịnh và gần gũi với tập sách hơn.
Trong khu vườn thiền lâm, thầy Trí Quang là một hành giả với bút lực dồi dào từ khi còn trẻ tới hồi đại lão như hôm nay. Nói về công phu biên dịch kinh sách, chỉ riêng năm 2011 thôi, thầy Trí Quang đã hoàn thành nhiều công trình trước tác thâm uyên với 3 bộ sách đã in ấn và phát hành là: Tổng Tập Giới Pháp Xuất Gia gồm 2 tập, mỗi tập hơn nghìn trang và Nhiếp Luận, 334 trang. Bởi vậy, khi cầm Trí Quang Tự Truyện trên tay, có lẽ tôi không nên trịnh trọng gọi đây là một tác phẩm hồi ký đầy chữ nghĩa to tát mà nên gọi đây là những dòng tâm bút của một sơn tăng giữa thị thành đang sống với tánh thường rỗng lặng “không vẫn hoàn không”.
So với những tác phẩm mang tính nội điển mà thầy Trí Quang đã cẩn trọng biên dịch – nghiêm cẩn trong từng cụm từ và chỉnh chu trong từng luận giải – thì Trí Quang Tự Truyện nhẹ như tơ hào. Tác giả viết ra những sự kiện, kể lại chuyện đời mình bằng một lối văn chân phương – lại có khi rề rà không trau chuốt – dễ dãi như người bình dân ngồi kể chuyện Tấm Cám.
Trong suốt 50 năm qua, nhân vật Thích Trí Quang thường được (hay bị) môi trường truyền thông đại chúng trong cũng như ngoài nước nhắc nhở khá sôi nổi và không ít thường xuyên trong hàng tu sĩ Phật giáo Việt Nam đương thời. Sự nhắc nhở xuất hiện dưới nhiều dạng thức và từ nhiều góc độ: Giữa đường, lề phải, lề trái, trên mây, dưới hố… Nhưng không phải vì lời khen hay chê mà một dòng sông trở thành trong hay đục. Chẳng phải vì được ca tụng hay bị đả kích qua ngõ thị phi mà một nhân vật trở thành thánh hay phàm. Đâu phải vì yêu hay ghét mà một tác phẩm trở thành hay hoặc dở. Thầy Trí Quang – cũng như mọi nhân vật cộng đồng tên tuổi đã thành danh – có một vị trí và thế đứng riêng trong lòng người và trong lịch sử. Nhưng trong tự truyện, sau khi kể chuyện đời mình từ nhỏ đến lớn; từ thân chú tiểu mới xuất gia cho đến vai trò lãnh đạo Phật giáo thành tựu, tác giả tự kết luận về đời mình: “…cuộc đời tôi ‘không vẫn hoàn không’, không có gì đáng nhớ, đáng nói. Ngay như sự tự truyện này, vì không thể không có, nên phải viết và phải in, mà thôi. ‘Không vẫn hoàn không’ là Phật cho, tôi mới được như vậy.”
Chính vì “chân không” mà cuộc đời thành “diệu hữu”. Nhà tu thật ngôn là người hành động trong vô vi; nghĩa là thỏng tay vào chợ mà không dính mắc, đối mặt với sấm sét giữa đời mà coi như hoa đóm giữa hư không.
Khuynh hướng nhất quán về “không” có mặt trên từng trang sách của Trí Quang Tự Truyện. Nội dung tự truyện kể lại nhiều biến cố và hành động trong chặng đời 90 năm của một hành giả đứng giữa gọng kềm lịch sử như thầy Trí Quang mà vẫn mang một phong vị tĩnh lặng an nhiên. Sự an nhiên có được khi yếu tố tác nghiệp không hoành hành. Đó là khi nhu cầu biện minh, giải thích, thuyết phục, khen chê, vinh danh, bài xích… không thể hiện qua ngòi bút và chữ nghĩa, ngôn từ của người viết. Nhờ vậy, người đọc tự truyện cảm thấy thanh thản theo dõi những gì xảy ra và được tác giả ghi lại mà tâm không bị động bởi những cảm xúc dấy bụi nhất thời.
Đạo Phật là con đường đưa đến giải thoát. Đó là một trạng thái tự do đứng ngay chính giữa hai bờ đối đãi của yêu-ghét, vui-buồn, khen-chê, sống-chết… Tuyệt nhiên không còn bị dính mắc vào hệ lụy của phóng tâm biên kiến đời thường đầy phiền não. Tâm Phật là tâm không không rỗng lặng. Chỉ trong không không rỗng lặng nầy – tinh thần “không trung vô hữu tuyệt đối” của Bát Nhã – thì Phật và chúng sanh mới thành nhất thể. Vì như thiền sư Thường Định Kaido Ashahi Nhật Bản nói trong Thiền Tập Quán Niệm Trên Núi Tuyết rằng: “Một đời đi qua, nếu còn một hạt bụi ngã nhân nào vướng lại ở trần gian nầy thì kẻ tác tạo hạt bụi đó vẫn còn bị cột buộc. Người đó còn phải quay lại trả nghiệp cho đến khi hạt bụi kia chẳng còn vướng vất giữa trần thế, trong tâm thức và giữa hư không…thì mới mong thấy được khung cửa nghìn xưa quay về nẻo Đạo.” Phải chăng vì muốn phủi sạch đôi “hạt bụi ngã nhân” còn vương trên khung cửa nghìn xưa quay về nẻo đạo mà Hòa thượng Trí Quang phải miễn cưỡng bận lòng trong Tiểu Truyện Tự Ghi, rằng: “Truyện của tôi không đáng gì mà phải ghi. Chỉ vì truyện ấy, hơn vài thập kỷ trước thập kỷ 2530 (1975-1985), có liên quan đến Phật giáo VN, lại bị hư cấu truyện và phim sai quá nên phải ghi. Nhưng ghi như dưới đây thì chỉ là có còn hơn không mà thôi.”
Xác định về một thái độ hành xử như thế, thầy Trí Quang làm cho những người học Phật đời sau nhớ tới tinh thần tùy duyên hành đạo và sống đạo của Phật giáo đời Trần. Vua Trần Nhân Tông khi đã gác kiếm chống quân Nguyên, thay chiến bào bằng áo cà sa, nghe thị giả hỏi rằng, đâu là chỗ khác nhau giữa việc đời bôn ba và việc đạo an nhiên tự tại, đã đọc bài kệ:
Sống đời vui đạo cứ tùy duyên
Khi đói thì ăn, mệt ngủ yên
Của quý đầy nhà đâu phải kiếm
Thấy cảnh lòng không khỏi hỏi thiền
(Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề, khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mịch
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền)

Như thế phải chăng “vô tâm tức là đạo?” Khi có người hỏi về khái niệm nầy, Tuệ Trung Thượng Sỹ, thầy của Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đọc bài kệ:
Vô tâm là vô đạo
Có đạo chẳng vô tâm
Tâm đạo đều trống rỗng
Biết nơi đâu mà tầm?
(Bổn vô tâm vô đạo
Hữu đạo bất vô tâm
Tâm đạo nguyên hư tịch
Hà xứ cánh truy tầm?)


Điều Tuệ Trung muốn nói là cần đập vỡ những khái niệm tương tác không có thật giữa củ khoai và con kiến. Làm gì có con kiến mà kiện củ khoai. Làm gì có tâm và đạo hiện hữu như hai đối thể phân biệt khi tâm và đạo là nhất thể. Tâm và đạo không phải là hai hình tướng để mô tả và phân biệt mà cần thực chứng trong rỗng lặng, an nhiên qua một trong nhiều phương tiện quán chiếu thiện xảo nhất của Phật giáo là thiền định. Đạo Phật là con đường thực chứng cuộc đời chứ không phải phủ nhận hay xa lánh cuộc đời như ngộ nhận. Đạo giữa đời và đời giữa đạo. Bình thường giai thị đạo.
Nhà tu là một người phàm trang bị tính thánh chứ không phải là thánh. Bởi thế, tu hành cũng là một quá trình vật lộn với chính mình vì nghiệp và luân hồi là một chân lý vận hành khách quan. Bất luận Phật tử xuất gia hay tại gia, đã tu mấy đời hay nhiều đại kiếp, khi chưa đắc đạo thành Như lai, Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác… thì vẫn còn trực tiếp chịu sự chi phối của Nghiệp. Mục Kiền Liên là đại đệ tử đệ nhất thần thông của đức Phật đã tu qua nhiều đại kiếp, đã từng xuống tận địa ngục A Tỳ cứu Mẹ mà trong kiếp cuối cùng, trước khi đắc đạo, vẫn phải trả Nghiệp tiền kiếp. Ngài đã bao lâu ẩn tàng, mặc cho bọn cướp vây quanh tha hồ biếm nhẻ. Nhưng chỉ một phút tác động của Nghiệp đã để lộ nguyên hình cho bọn cướp ùa tới phanh thây. Tên cướp và thiền sư khác nhau ở chỗ là ai đang tạo nghiệp và ai đang giải nghiệp mà thôi.
Bởi thế, “tùy duyên…” là phong thái hành hoạt của người theo đạo Phật. Tất cả đều có sẵn tự thân tâm. Làm vua gặp quân xâm lăng: Đánh! Làm thầy gặp chuyện bất bằng: Chống! Gặp đời phiền não: Tu! Hết một đời: Thản nhiên ra đi như thay áo. Gặp chuyện thị phi đời thường: Im lặng như chánh pháp. Khi cần lập ngôn: Nói năng như chánh pháp. Có gì quan trọng – khi một tơ hào cũng không còn hiện hữu trong tánh không rỗng lặng – đâu mà phải cần hư vọng, hư danh như bia đá đề tên, lưu danh sử sánh, bỉ thử khen chê.
Trong khung cảnh Phật giáo, Trí Quang Tự Truyện viết ra để ghi lại những chuyện đời thường của chính tác giả. Nhưng tất cả đều không vượt ra ngoài tự tánh của chư pháp “không lại hoàn không” và tác giả đã hành xử; đã sống và viết trong cái không mênh mông rỗng lặng đó. Tiếng chuông công phu khuya từ chùa Hàn Sơn ngày xưa dóng lên từ một sơn tăng đã trở về với tự tánh rỗng lặng. Nhưng Trương Kế và muôn vạn đời sau đã “bắt gặp” và cảm nhận như thế nào là cả một hợp duyên “thân báo” muôn màu muôn vẻ khó thể nghĩ bàn. Khi tiếng chuông tự nó là tiếng chuông thì sẽ không khứ, không lai, không thừa, không thiếu. Tiếng chuông cũng chỉ là một pháp… không lại hoàn không.

Trần Kiêm Đoàn
Huế – Cali., mùa Phật Đản 2556 (2012)

Monday, May 7, 2012

TRẦN VẤN LỆ * Đất Khách Lang Thang Một Tiếng Cười



Lâu lắm,  sáng nay tôi gặp lại / một người bạn cũ thuở nhà binh.  Bạn già…trông giống như ông Tướng – ông Tướng buồn hiu – Tướng thất tình!

Bạn nắm tay tôi rồi chậc lưỡi:  Ồ mày!  Thằng Lệ Địa Phương Quân / vẫn “ngon” như thuở Ma Lâm nhỉ / thơ thẩn vẫn đầy ắp mỹ nhân!

Bạn với tôi vào quán mái hiên / mái hiên Tây Nguyệt gác chênh chênh / thằng ly trà đá / thằng chanh muối / khuấy đục ly tìm chút nhớ / quên…

Bạn làm thợ tiện / tôi làm thơ.  Cải Tạo nhiều năm, chuyện chẳng chờ / cả cái chết Trời chưa biểu chết / ờ thì cứ sống / sống lơ ngơ!

Hai đứa quanh co ngày tháng cũ / quanh co rừng núi thuở hành quân / rồi thì đi thẳng vào năm tháng / đi thẳng vào thời Mất Núi Sông!

Hai đứa hình như…rất giống nhau:  “Mày ơi tao tưởng giấc chiêm bao!”.  Bạn tôi não nuột nheo nheo mắt, tôi nói: “Thôi đành vậy, kiếp sau…”.

Có được hay không đời-kiếp-khác?  Thở dài.  Ly nước đá bay hơi…Quê Hương ngó lại, mình tan biến, còn lại, như nhau:  Tiếng Thở Dài!

Bạn với tôi về, kẻ ngược, xuôi.  Bạn còn nghề ngỗng, cũng vui thôi, tôi quờ tôi quạng thơ lăn lóc.  Đất khách lang thang một Tiếng Cười!

Trần Vấn Lệ

m.h.hoài-linh-phương * Bài Cho Ngày Anh Đi Chinh Chiến



Ngày mai anh rời trường Mẹ,
Bỏ lại sau lưng bốn năm dài kỷ niệm
Bốn năm miệt mài học làm kiếp lính gian nan
Dây tử thần
Dây tự tin
Những buổi sáng di hành qua đồi cao, lũng thấp
Những đêm mịt mù giá rét
Phiên gác nào lạnh buốt nhớ miên man...
Thông vẫn xanh qua lời gió ngút ngàn
Em áo trắng, sân trường xưa... đã chập chùng dư ảnh...

Một thoáng mây trôi...
Mới ngày nào...
Xếp áo thư sinh mộng sông hồ đời trai phiêu lãng...
Chân ngại ngùng bước qua cổng Nam Quan...
Khúc nhạc quân hành nuôi chí lớn dọc ngang
      
Anh chinh phục Lâm Viên
Em nhớ về đồi Bắc!
Đèn rực sáng vũ đình trường nghe rừng thông hát
Khi trên vai ngưòi bắt đầu mang màu đỏ Alpha
Nhiệt huyết của người rạng rỡ…, kiêu sa
Như quân trường đã hun đúc ý chí đời trai, nợ nước...

Gửi lại cho em,
Những bông hoa đào mùa xuân buổi trước
Dalat buồn trong nắng quái chiều hôm

Từ giã cao nguyên,
Bước chân anh kiêu hùng
Dẫm đồng bằng, vượt rừng sâu qua núi, qua truông
Cho Việt Nam sống còn
Cho cờ Việt Nam còn tung bay ngạo nghễ...

Ngày mai anh đi,
Dù anh trở về trong chiến công hiển hách
Hay nằm xuống ngàn đời trong lòng đất Mẹ thân yêu
Em vẫn dành cho anh
Mọi vinh quang cho người ra trận mạc
Chiếc khăn sô còn nghe giòng lệ nóng
Như vợ tiễn đưa chồng
Như ta đã riêng nhau...
Từ nghìn xưa cho đến nghìn sau
Thời chinh chiến mấy người đi trở lại ?

Nhưng chia ly không nghĩa là mãi mãi...
Tay rời tay không có nghĩa cuộc tình tan
Ta còn một đời để gửi gấm yêu thương
Còn mấy kiếp cho rượu hồng, pháo đỏ

Em lãng mạn, viễn vông
Nhưng trái tim biết chân thật  ru lòng người vào nơi nắng gió
Mắt anh rạng ngời,
Rực sáng, uy nghi
Rút gươm thề đi anh!
Xin hồn thiêng chứng giám, khắc ghi
Nối dãi non sông về cho đất Mẹ.

Vâng, anh đi
Cho dẫu như Kinh Kha qua bên kia bờ Dịch Thủy
Vẫn một đời mang hào khí Lâm Viên!


mhhoàilinhphương
Saigon – Việt Nam 1972

THIẾU KHANH * Ai Đã Ru Ngủ Chúng Ta

  
Đây là phiến đá có khắc tự phù biểu ý của người Lạc Việt cổ được chụp tại huyện Bình Quả – Quảng Tây vào ngày 23 tháng 12 (2011) ( Hình và lời chú thích trích từ bài viết 'Phát hiện chữ Việt cổ ở Quảng Tây' của tác giả Hà Văn Thùy tại vietthuc.org )

Nhân một bài viết của nhà nghiên cứu Hà Văn Thùy phổ biến trên một số trang mạng về sự kiện chữ viết cổ xưa của người Lạc Việt được phát hiện ở Tỉnh Quảng Tây Trung quốc, có người (trên Diễn đàn CNDD) đã phản ứng như sau: 
“Xã hội có nhà văn, nhà thơ, nhà báo, nhà giáo, nhà toán học, nhà vật lý, nhà khảo cổ . . .
Bây giờ, xã hội chúng ta lại có thêm nhà ru (viết ngắn của nhà ru ngủ dân tộc), có mặt khá nhiều trên Net, hay trên sách.
Chẳng có gì đáng “vui mừng,” hay “tự hào,” như Hà Văn Thùy nói. Xin nhắc lại, đó chỉ là những ký hiệu, không phải chữ.
Nhà ru tiếp tục ru ngủ dân tộc Việt Nam
Đọc tiếp bài viết NGƯỜI LẠC VIỆT LÀ CHỦ NHÂN CỦA GIÁP CỐT, KIM VĂN, của Hà Văn Thùy, trên Việt Thức, 02/15/2012.
“Từ khảo cứu của mình, từ năm 2006, chúng tôi khẳng đĩnh rằng, tiếng Việt là chủ thể tạo nên ngôn ngữ Trung Hoa,” Hà Văn Thùy viết.
(1)   Cái mà Hà Văn Thùy gọi là chữ, hay tiếng (language), thật ra, đó chỉ là những ký hiệu (symbol, signifier) rời rạc, khắc trên đá.
(2)   Tiếng Việt có cấu trúc ngược với Tiếng Tàu. Làm sao có thể nói, Tiếng Việt đã “tạo nên” Tiếng Tàu.
(3)   Nói rằng Tiếng Việt “tạo nên” Tiếng Tàu, làm sao có thể cắc nghĩa 2 hiện tượng sau đây: (a) Suốt dòng lịch sử, Người Việt chỉ có tiếng nói, không có chữ viết, phải mượn Tiếng Hán để học hành, và dùng trong quản trị hành chánh (viết sắc, chiếu của triều đình), và (b) Tiếng Tàu đã phát triển đầy đủ, còn Tiếng Việt thì nghèo nàn, không đủ dùng.
Hôm nay, là Thế Kỷ 21, dân tộc Việt Nam không phải là trẻ con. Để cho những nhà ru, như Hà Văn Thùy, có thể dùng lời ru ngọt ngào của họ, để dìu dân tộc chúng ta vào giấc ngủ.
KHÔNG.
Một dân tộc thích tự thỏa mãn về mình, là một dân tộc đang thoái hóa. Một dân tộc có can đảm nhận những yếu kém của mình, dân tộc ấy mới có động lực để vươn lên, để đuổi kịp các dân tộc tiến bộ trên Trái Đất.
Việt Nam hiện nay, có khá nhiều nhà ru. Đó là một bất hạnh của dân tộc chúng ta.”

Bài viết của TK dưới đây là một email phản hồi đáp lại ý kiến trên:

Tôi không cho chuyện này có ý nghĩa "ru ngủ" . Và lòng tự hào dân tộc không bao giờ có ý nghĩa tiêu cực là ru ngủ hay tự ru ngủ. Dường như trong truyện ngắn Thằng Mõ (tôi không chắc), nhà văn Nam Cao đã nói, mà tôi cho là rất đúng, rằng (không phải nguyên văn) khi một người thường xuyên bị chà đạp, bị lăng nhục, thì anh ta không còn tin tưởng vào giá trị con người của anh ta nữa. Hơn thế, anh ta sẽ sống phù hợp với cái thân phận mang tính chất đễu cáng hạ cấp mà người khác gán cho anh ta.
Không phải là chuyện ru ngủ chút nào cả khi Napoleon đặt ra các danh hiệu rất kêu kiểu như Maréchal / Maréchaux de France (Pháp quốc thống chế) hay Armiral de France (Pháp quốc Đô đốc) v.v... cho các tướng lãnh cao cấp của ông ta. Và lời ông ta động viên quân sĩ dưới chân Kim Tự Tháp tại Ai Cập rằng "Hỡi các người! Các người nên biết rằng hơn bốn mươi thế kỷ đang nhìn xuống chúng ta!" không hề là một lời huyênh hoang vô lối hay ru ngủ ai cả. Rồi những thứ huy hiệu, cầu vai, dây tua lòe loẹt này nọ mà các quân đội trên thế giới bày vẽ ra để ban tặng cho quân lính của mình. Những thứ đó cũng không làm cho họ ngủ; trái lại chúng làm cho họ mạnh mẽ lên, hào hùng thêm, hành động dũng cảm hơn nữa, phù hợp với những mong đợi lớn lao mà đất nước đặt vào họ.
Cũng chính trong ý nghĩa này mà chúng ta không bao giờ bỏ qua cơ hội nào để củng cố sự tự tin và lòng tự trọng nơi con cái mình, củng cố lòng tự hào của chúng vào nền tảng tinh thần của gia đình mình (gia phong); chúng ta không bao giờ bỏ qua dịp để khen thưởng và khích lệ con cái mình hay thay cho sự khen thưởng bằng thái độ hờ hững của chúng ta, hoặc coi thường mọi nỗ lực phát triên sự tự tin của chúng như là chuyện lố bịch.
Truyền thuyết Rồng Tiên vì vậy không hề là một huyền thoại bịa đặt vô nghĩa, như có người cười cợt biếm nhẽ.
Giả dụ tất cả người Việt Nam tin theo một ai đó, cho rằng nòi giống mình chỉ là một chi nhánh hạ đẳng của người Tàu (quả thực đã có chuyện này, khi một "sử gia" nào đó mà tôi đã đọc từ khi còn nhỏ nên không nhớ tên, cho rằng đa số người VN có họ Nguyễn, mà họ Nguyễn là một họ thuộc hạng dân hạ tiện chiếm phần rất ít ỏi trong xã hội Tàu!). Giả dụ mọi người VN luôn chứa sẵn  trong đầu mình cái mặc cảm mình là loại người hạ tiện hạng bét đối với Tàu, thì liệu chúng ta có còn dám ngẩng cao đầu một cách oai hùng bất khuất trước những cuộc xâm lăng của chúng, như ông cha ta đã luôn luôn chúng tỏ trong lịch sử hay không? Với tham vọng thôn tính nước ta của chúng đã phô bày lộ liểu, và với thái độ đê hèn của nhà nước Cộng sản VN  hiện nay khiếp nhược trước giặc mà hèn hạ với dân, cái mặc cảm nhục nhã tai hại đó sẽ giúp cho việc "nội thuộc" diễn ta thuận lợi biết bao!
Về mặt con người, các nghiên cứu tâm lý học đã khẳng định nguyên lý tinh thần hướng dẫn thể xác. Cuộc chiến đấu của nhân dân Việt nam chống lại áp lực xâm lăng và đồng hóa của Tàu phải được hướng dẫn bằng "tinh thần". Đó là văn hóa. Chúng ta không chỉ chống lại mọi sự xâm lăng của Tàu bằng sức mạnh thể chất mà còn bằng sức mạnh văn hóa. Để củng cố sức mạnh văn hóa, thử nghĩ xem, có cách gì tốt hơn, hữu hiệu hơn là khôi phục, phát triển và củng cố niềm tin vào lịch sử và bản chất của dân tộc mình không thua kém bất cứ ai?
Trong lịch sử thế giới, đã có quốc gia nào từng ngủ quên trên sự tự hào về lịch sử hào hùng của dân tộc họ không? Không hề. Trái lại, những giai đoạn suy vọng của mỗi quốc gia đều xảy ra trong thời kỳ mà lòng người phân tán, khi niềm tự hào dân tộc ấy đã bị lung lạc, suy yếu hay không còn nữa. Trong hoàn cảnh như thế, Lê Lợi phải mất đến mười năm mới "đẩy" được đám quân Minh xâm lăng về nước, (sau cuộc kháng chiến dai dẳng làm cho chúng mỏi mòn mà ta không có một trận đại thắng nào lừng lẫy tầm cỡ "Bạch Đằng"), trong khi trước đó, nhà Trần với hào khí Đông A chỉ cần một thời gian rất ngắn để ba lần đánh bại ba cuộc xâm lăng của lực lượng xâm lược mạnh nhất, dữ dằn nhất, đáng sợ nhất của cả nhân loại trong mọi thời đại, với các chiến thắng lừng lẫy.
 Với sự phát hiện chữ Việt cổ (Hà Văn Thùy - Phát Hiện Chữ Việt Cổ ở Quảng Tây ), tôi cho đó là một chiến thắng tinh thần rất lớn lao của người Việt trước người Tàu và văn hóa Tàu. Thông tin này cần phải được chào đón một cách trân trọng, chớ không phải là với sự biếm nhẽ. Từ lâu, cả thế giới đều công nhận nước Tàu "văn minh trước thiên hạ." Một số nhà trí thức của ta cũng nhắm mắt lập lại như thế. Mở "Việt Nam Văn Hóa Sử Cương" của Đào Duy Anh ra mà xem. Ông ấy nói rằng khi ta tiếp xúc với văn hóa Tàu thì văn hóa của người Hoa Hạ đã phát triển rực rỡ, còn văn hóa của ta thì rất chất phác thấp hèn. (Nguyên văn gần như thế). Nhận định này của vị học giả "bách khoa" của ta từng khiến tôi thất vọng, vừa buồn vừa giận, là một trong những lý do mà hơn ba mươi năm trước đã khiến tôi không tự lượng sức mình, làm một công việc đội đá vá trời rất đáng mắc cỡ là... nghiên cứu lịch sử văn hóa VN!
Nếu có một người Việt Nam nào nói khác các luận cứ "kinh điển" có cầu chứng của các học giả nước ngoài về lịch sử văn hóa VN thì lập tức bị những người khác, cũng là người VN, dè bỉu cho là tự hào dân tộc vô lối. Linh mục Kim Định là một nạn nhân như thế. "Triết lý an vi của ông", dù chỉ là một triết lý chứ không phải sử học, với những "giả thuyết làm việc" (lời của chính vị linh mục ấy) căn cứ trên nhiều kết quả nghiên cứu của những tác giả có thẩm quyền quốc tế, vẫn không thuyết phục được những nhà khoa bản được định vị "dưới chân Kim Tự Tháp Trung hoa".
Với phát hiện chữ viết của người Việt cổ này, tôi nhìn thấy một cuộc địa chấn. - dĩ nhiên với điều kiện sự phát hiện đó phải được khoa học xác nhận một cách vô tư. Một cuộc địa chấn không để ai ngủ được cả, chớ đừng nói chuyện làm cho người ta ngủ. Người ta bị lay xốc cực mạnh để thức dậy. Ai không thức dậy tức là đã chết rồi.
Cuộc địa chấn như thế nào? Và chúng ta đã ngủ từ bao giờ và ngủ như thế nào để bị cơn địa chấn này đánh thức?
Cả ba câu hỏi này có một câu trả lời chung. Không phải chúng ta chỉ mới ngủ từ khi những tên thực dân Pháp dạy ta rằng tổ tiên ta là người Gô-loa, mà đã ngủ từ khi chúng ta được chính mình nhồi sọ cho nhau để tin một cách nức nở rằng chúng ta được tên thái thú Tàu là Sĩ Nhiếp dạy cho biết văn minh lễ nghĩa, những tên thái thú Nhâm Diên và Tích Quang dạy cho ta biết cày cấy vân vân. Rồi chúng ta mang ơn chúng, và thờ phụng chúng như thánh thần. (Đã có một triều vua của ta phong tước vương cho Sĩ Nhiếp và các nho sĩ ta thời trước gọi y là Sĩ vương!)
Trong thời thượng cổ, dân tàu là giống dân du mục săn bắn, trong khi dân Lạc Việt là một trong những chủ nhân của nền văn minh nông nghiệp của nhân loại. Chính người Tàu đã xác nhận điều đó khi trên bầu trời họ đã định vị vì sao Thần Nông ở về hướng Nam. Thần Nông (ông thần phát minh nghề nông) là người phương Nam, tức người Việt. Thần Nông chẳng phải ông thần nào cả. Đó là tượng trưng cho nền văn minh nông nghiệp phương Nam. Và cũng chính người Tàu đã “vẽ” ra một chữ Việt bộ Mể ( ) gồm hai phần để mô tả người Việt là chủng người biết làm ruộng lúa nước (phần trên) và biết sử dụng liềm hái cắt lúa (phần dưới).
Vậy mà, ai đời một trong những chủ nhân của nền văn minh nông nghiệp của nhân loại lại đi học nghề nông với bọn người du mục đến từ phương Bắc!
Đó mới chỉ là chuyện liên quan đến hai tên thái thú Nhâm Diên và Tích Quang. Còn chuyện liên quan đến “Sĩ vương” tức Sĩ Nhiếp?
Hơn ba mươi năm trước, sống đời nông dân trên rừng núi, nhưng bực mình vì thấy có người cho những từ tiếng Việt Vua, Bố, cha mẹ, chú bác, cô dì, anh chị em vân vân... đều là tiếng Tàu cổ hay có gốc Hán cổ từ những đời đường đời mật nào đó, tức một cách nói rằng người Việt chính là hậu duệ của người Tàu, tôi đã không tự lượng sức mình và không biết trời cao đất dày, đã "nghiên cứu" lịch sử văn hóa VN xem thử Ta Là Ai. Dĩ nhiên công trình "nghiên cứu" đầy cảm tính và chủ quan nông nổi của tôi đã không tới đâu. Có nhiều lý do khiến tôi phải bỏ cuộc. Một trong những lý do đó là tôi va phải một thực tế "ác nghiệt". Tôi nhận thấy rằng, nếu tộc người Việt đã có một nền văn minh riêng "như thế, như thế" từ nhiều ngàn năm trước, ắt họ đã thoát khỏi giai đoạn thắt gút và có một hệ thống chữ viết để truyền thông với nhau. Nhưng những thông tin tôi cần về chuyện này là chưa có vào lúc đó, hoặc rất mơ hồ.
Trong bài viết, vốn là một cái email như email này đây mà sau đó khi được phổ biến trên mạng, tôi đã đặt tựa là "Văn hóa Việt Nam là của Dân tộc Việt Nam" (http://art2all.net/tho/tho_tk/vanhoavietnam.html), vì chưa biết thông tin về chữ viết của người Việt cổ tôi đã không thể đưa giả thuyết rất... hoang đường của mình ra để giải thích một hiện tượng là: Tất cả các vua chúa lớn nhỏ của Tàu trong lịch sử, trừ giai đoạn đời nhà Chu, đều xưng đế chớ không ai chịu xưng vương, và tước Vương vốn có ý nghĩa rất cao quý (nối thông tam tài) lại chỉ để phong cho các con trai thứ của nhà vua! Tôi đã thấy rằng từ Vương một từ của ngôn ngữ Việt, nói cách khác, từ Vương là một từ thuần Việt mang vỏ chữ Hán. Tuy mang hình thức chữ Hán, nhưng nội dung hàm ngụ của nó là tinh thần văn hóa Việt Nam.
Giả thuyết lố bịch của tôi để giải thích hiện tượng đó là như vầy: Trong quá trình phát triển dân tộc và bành trướng đất đai, tộc người (về sau tự xưng là) Hoa Hạ đã tiếp thu luôn cả nền văn minh của người Lạc Việt là cư dân sinh sống từ phía dưới sông Hoàng Hà, hoặc ít nhất là từ bờ Nam sông Dương tử trở xuống. Người Lạc Việt với văn minh nông nghiệp vốn hiền hòa, sau một thời gian sống chung với bọn người du mục mới đến, đã không thể chống chọi lại bản tính tàn bạo và hiếu chiến của chúng nên sau mỗi cuộc xung đột, người Lạc Việt  cứ rút lui dần về phía bên này vùng Ngũ Lĩnh. Có lẽ đó là lý do mà một trong bốn chữ Việt để chỉ người Việt, người Tàu đã vẽ hình một người [thất trận] bỏ chạy (tẩu ) có cầm vũ khí (qua ), thường được gọi là chữ Việt bộ tẩu [ 越 ] . ([1])
Giai đoạn chủng người Hoa Hạ tiếp xúc và hấp thu nền văn minh của chủng người Việt có lẽ xảy ra rất sớm, từ thời Hiên Viên, Hoàng đế trong lịch sử Tàu. Văn hóa đời Chu cho thấy họ đã hoàn toàn thấm nhuần tinh thần văn minh văn hóa Việt. Người thủ lãnh của họ cũng bắt chước xưng Vương như người Việt – thay vì truyền thống của họ trước đó là xưng Đế.
Trong văn hóa Việt, Vương là một hiền giả, một người minh triết, một đấng thánh nhân, có thể cũng nắm giữ vị trí lãnh đạo xã hội, chủ yếu bằng đức độ và sự minh triết, chớ không phải bằng quyền lực và vũ lực. Trái lại, trong nền văn minh du mục, người lãnh đạo nắm toàn quyền cai trị và thống nhất xã hội bằng vũ lực. Chính sự bắt chước theo văn hóa Việt đã làm phân hóa xã hội của chủng dân du mục. Tước vị Vương của nhà Chu chỉ cho họ một điều thích hợp duy nhất là tôn người lãnh đạo lên bậc chí tôn, thiên tử, con trời. Nhưng vì không có quyền lực và vũ lực trong tay nên ông con trời đành bất lực nhìn đất nước phân tán nát bấy. Nhà Chu có tới tám trăm nước chư hầu. Tức là tám trăm bề tôi của cùng một ông vua đều mỗi người làm vua một cõi mà thiên tử nhà Chu yếu thế không có vũ lực trong tay, không làm gì được, kể cả khi đám bề tôi đó liên tục nhân danh thiên tử để triệt hạ và thâu tóm lẫn nhau.
Vì thấy rõ cái Vương đạo của người Lạc Việt chỉ phù hợp cho chủng dân với nền văn minh nông nghiệp hiền hòa và minh triết, không thể áp dụng được cho chủng dân vốn xuất phát từ nền văn minh du mục, nên mặc cho Khổng Tử mang Vương đạo đi rao giảng khắp nơi mòn giầy lỏng gối mà chẳng ai thèm nghe theo.
Khi Tần vương Doanh Chính thống nhất thiên hạ, ông ta quyết định xưng Đế theo truyền thống của người dân du mục trước đó. Thủy Hoàng Đế: Hoàng Đế đầu tiên.
Thật ra, ông ta không phải là vị hoàng đế đầu tiên. Thời thượng cổ trước đó họ đã có những vua Hoàng đế, Đế Nghiêu, Đế Thuấn, vân vân. Nhưng các danh xưng Đế Nghiêu, Đế Thuấn này đã bị linh mục Kim Định phát hiện là được gọi theo cấu trúc tiếng Việt. Tức là họ tự tố cáo mình chịu ảnh hưởng của văn hóa Việt vào thời kỳ người Hoa Hạ mới từ trên vùng Hoàng Hà đổ xuống, sống chung với người bản địa Lạc Việt.
Nhưng khi tự xưng Thủy Hoàng Đế, rõ ràng ông ta đã tuyên bố đoạn tuyệt hẳn với văn hóa văn minh Lạc Việt, trở về với thời rất xa mà tổ tiên của chủng dân Hoa Hạ này còn sống trong nền văn hóa du mục “rặt ri”, trước cả thời Hiên Viên, Hoàng đế.
Đốt sách chôn Nho đâu phải chỉ là để thống nhất chữ viết, như lâu nay người ta cứ nhai đi nhai lại mãi. Chữ viết là chuyện nhỏ, chỉ cần một sắc lệnh là xong, nhất là dưới thời toàn trị phong kiến ai dám cưỡng, viết khác kiểu chữ vua ra? Đốt sách chôn nho chính là nhằm tiêu diệt ảnh hưởng của văn minh Lạc Việt trong xã hội người Hoa Hạ, để nhà vua nắm toàn quyền cai trị bằng vũ lực, nhưng vẫn không bỏ vị trí tinh thần cao cả của bậc minh triết trong văn hóa Lạc Việt, mà lợi dụng nó và bóp méo nó để tự tôn mình là đấng con trời. Những chuyện vương đạo, bá đạo, pháp gia, danh gia, bách gia chư tử này nọ trong thời chiến quốc chỉ là sự vật vã dằn xé trong ý thức của dân tộc họ giữa hai con đường phải chọn một: hoặc nền văn hóa vương đạo của Lạc Việt, hoặc nền văn minh bá đạo theo bản tính du mục của dân tộc họ. Và họ chọn bá đạo và tiêu diệt vương đạo[2].
Tiêu diệt là chuyện Tần Thủy Hoàng muốn. Nhưng có lẽ ông ta đã sớm nhận ra rằng nền văn hóa nông nghiệp của người Việt có sức cảm hóa rất lớn. Một phần nền văn hóa Hoa Hạ là được tiếp thu từ văn hóa nông nghiệp Lạc Việt, đã trở thành giá trị chuẩn mực trong xã hội người Hoa, không gì có thể thay thế được. Tiêu diệt nó là điều hoàn toàn không thể. Thế là họ làm một cuộc đánh tráo văn hóa. Việc đốt sách chôn nho chính là âm mưu cho sự đánh tráo văn hóa, nhằm đổi trắng thay đen đó. Theo đó, người Tàu đóng vai đi khai hóa, dạy văn hóa lễ nghĩa cho “tứ di” những dân tộc “man rợ” trong đó có “Nam man”. Thành ra, chủ nhân của nền văn minh nông nghiệp đi học lại văn hóa nông nghiệp từ giống dân du mục là Tàu.
Không phải là các sử gia Tàu đời Hán về sau không biết những chuyện đánh tráo kệch cỡm đó, nhưng họ thấy như thế làm vinh dự cho lòng tự cao của họ nên họ đồng lõa theo. Và chúng ta ngủ vùi dưới âm thanh của dàn đồng ca tráo trở đó. Có cả giọng ca của một vài sử gia Việt hùa theo.
Phong vương cho Sĩ Nhiếp, gọi y là Sĩ vương… chính là cùng ca bài ca của chúng để tự ru ngủ mình.
Trở lên là giả thuyết động trời của tôi. Giả thuyết đó phải có căn cứ là nền văn minh Lạc Việt có trước Tàu để làm cơ sở. Nhưng, như tôi có viết cho một người bạn mới đây, một nền văn minh như thế mà không có chữ viết thì chỉ là chuyện giả tưởng, hoặc một chuyện hài hước cười không nỗi. Vì không thấy có bằng chứng nào chứng tỏ người Việt cổ đã có chữ viết riêng nên tôi đã hậm hực bỏ dở “công trình nghiên cứu” rất cà chớn của mình.
Bây giờ đã có thông tin về chữ viết cổ của người Lạc Việt. Khi đón nhận tin này, một thông tin rất ngắn tôi đọc thấy trên mạng hồi trước Tết, trước bài viết khá chi tiết của ông Hà Văn Thùy, tôi rất xúc động. Người tôi run rẩy. Nhưng tôi không ngạc nhiên. Tuy tôi quên “công trình nghiên cứu” của mình rồi, nhưng một nơi nào đó sâu thẳm trong tôi vẫn hằng mong đợi một thông tin như thế. Vì thông tin này đối với tôi có giá trị quá lớn, nên tôi không dám mừng rỡ hết lòng. Một sự xác định trái ngược hay phủ định giá trị của phát hiện đó sẽ khiến tôi rất tổn thương. Tôi nén cảm xúc cho đến khi phát hiện đó được khoa học xác minh là chính xác.
Nhưng, dù vậy, tôi cảm thấy phát hiện này có ý nghĩa một cuộc địa chấn: Nếu phát hiện đó được xác nhận là đúng thật, không những cổ sử của ta và cả cổ sử Tàu phải được viết lại, mà lịch sử văn hóa của một số quốc gia châu Á, gồm Việt Nam, Trung Quốc và các nước chịu ảnh hưởng văn hóa Trung Quốc cũng phải viết lại. Thậm chí lịch sử văn hóa thế giới sẽ phải có những điều chỉnh quan trọng. Vì chứng tích chữ viết cổ này xác nhận nền văn minh Lạc Việt tồn tại từ lâu trước khi người Hoa Hạ đến xâm lấn địa bàn cư trú của họ là điều có thật. Chữ viết cổ của người Lạc Việt là nguồn gốc của chữ Trung Quốc là điều có thật. Nền văn hóa và văn minh tinh thần của Trung Quốc là có nguồn gốc từ văn minh Lạc Việt là có thật. Trung Quốc sẽ không còn được nhìn nhận là cội nguồn của nền văn hóa văn minh mà họ mạo nhận là của họ từ nhiều nghìn năm nay. Những sự đảo lộn lớn lao như thế không sánh với một cuộc địa chấn được sao?
Giành được thắng lợi trong một trận bóng đá thôi mà người ta la hét cuống cuồng nhảy nhót như điên loạn; lẽ nào giành lại được quyền làm chủ của một trong những nền văn minh văn hóa sớm nhất của nhân loại mà lại… buồn ngủ sao?
Có nhiều quốc gia đã cố phấn đấu mọi cách để giành được quyền đăng cai một trận bóng. Một nền văn minh văn hóa lâu đời của cha ông trở lại vào tay mình mà lại không giá trị bằng một trận bóng sao?
Trong cái email dẫn ở đầu bài viết, tác giả từ chối phát hiện này với lý lẽ rằng:

(1)   Cái mà Hà Văn Thùy gọi là chữ, hay tiếng (language), thật ra, đó chỉ là những ký hiệu (symbol, signifier) rời rạc, khắc trên đá.
 (2)   Tiếng Việt có cấu trúc ngược với Tiếng Tàu. Làm sao có thể nói, Tiếng Việt đã “tạo nên” Tiếng Tàu.
 (3)   Nói rằng Tiếng Việt “tạo nên” Tiếng Tàu, làm sao có thể cắc nghĩa 2 hiện tượng sau đây: (a) Suốt dòng lịch sử, Người Việt chỉ có tiếng nói, không có chữ viết, phải mượn Tiếng Hán để học hành, và dùng trong quản trị hành chánh (viết sắc, chiếu của triều đình), và (b) Tiếng Tàu đã phát triển đầy đủ, còn Tiếng Việt thì nghèo nàn, không đủ dùng.
Tôi cho đây là một sự hiểu lầm.
1.      Chữ viết và tiếng nói là hai thành tố của một ngôn ngữ. Ở chữ viết tượng thanh, một ký hiệu thường đại diện cho một âm, và có thể không có ý nghĩa nào cả. Các âm /a/, /b/, /k/ không có nghĩa gì hết. Ghép chúng lại theo một thứ tự nhất định thì chúng mới thành một chữ, mang một ý nghĩa qui định nào đó. Trong trường hợp này là chữ Bac, (có thể là tiếng Việt hoặc tiếng Pháp), hoặc Cab (tiếng Anh), hoặc cũng có thể là QAB, chữ tắt của queue anchor block trong lãnh vực toán tin học, hay Baq., viết tắt tên phi trường Barranquilla ở Colombia…
      Với chữ tượng hình, mỗi ký hiệu có thể là một chữ, vừa có âm, vừa mang nghĩa. Những chữ viết cổ phát hiện được là chữ tượng hình. Do đó, người ta đã đối chiếu với chữ khoa đẩu có niên đại mới hơn chúng và đã đọc được nội dung ý nghĩa của chúng. Các ký hiệu của chữ tượng thanh phải viết liền vào nhau mới thành chữ. Chữ tượng hình thì mỗi chữ là một đơn vị rời rạc.
2.      Dường như tác giả email này có sự nhầm lẫn giữa tiếng và chữ. Thứ mới được phát hiện ở đây là chữ viết (writing). Tiếng Việt không thể tạo nên tiếng Tàu. Nhưng người Tàu có thể dùng chữ viết cổ sơ này của người Lạc Việt để xây dựng và phát triển thành hệ thống chữ viết của họ. Đó là chuyện bình thường. Ta vẫn dùng chữ cái Latinh để viết tiếng Việt, có sao đâu!
Tiếng Việt có cấu trúc ngược với tiếng Tàu. Tiếng Việt không nói theo cấu trúc tiếng Tàu. Nhưng người Tàu thời thượng cổ có nói theo cấu trúc tiếng Việt. Những cách gọi Đế Nghiêu, Đế Thuấn, thay vì Nghiêu đế, Thuấn đế… là một bằng chứng lịch sử. (Còn thêm một số thí dụ nữa về chuyện người Tàu (thời cổ) nói theo cấu trúc tiếng Việt mà nhất thời tôi không nhớ).
3.   a. Chuyện “suốt dòng lịch sử người Việt chỉ có tiếng nói, không có chữ viết, phải mượn tiếng Hán để học hành…” thì lịch sử đã có câu trả lời đầy đủ, và cụ thể. Đó là hậu quả của một chính sách đồng hóa tàn bạo của người Tàu đối với các dân tộc bị chúng đô hộ. Sử Tàu ghi rõ, những ngày tháng nào, những tên vua nào của Tàu đã ra lệnh cho những bọn tay chân nào của chúng phải tìm và tịch thu hoặc hủy diệt tất cả những gì có chữ viết của các dân tộc bị trị để họ không còn nhớ đến lịch sử và văn minh của nòi giống họ nữa. Một mẫu giấy nhỏ có chữ viết cũng không để sót. Đọc sử Tàu sẽ thấy đủ và rõ hết. Trong sử của ta thỉnh thoảng cũng có trích dẫn những lệnh hủy diệt này của chúng.
Sau 1050 năm nằm dưới ách đô hộ của chúng mà tiếng nói của ta vẫn không mất là một điều thần kỳ vĩ đại. Chỉ sau hơn ba trăm năm bị đế quốc Tây Ban Nha cai trị (1565 - 1898), và chưa tới sáu mươi năm (1898 - 1945) nằm trong tay các đế quốc Mỹ và Nhật mà người Phi-lip-pin đã mất cả tiếng nói lẫn chữ viết của dân tộc họ rồi kìa! 
b. “Tiếng Tàu đã phát triển đầy đủ trong khi tiếng Việt vẫn còn nghèo nàn” chẳng phải là do sự yếu kém hay khiếm khuyết gì của tiếng Việt. Đó là do lịch sử. Tiếng Tàu liên tục phát triển từ khi dân tộc họ có tiếng nói đến nay, không đầy đủ mới là chuyện lạ. Tiếng Việt chúng ta chỉ mới thực sự phát triển vào khoảng 3 phần tư thế kỷ đây thôi. Chẳng phải mãi đến thập niên 40 thế kỷ trước ta vẫn còn các hội truyền bá quốc ngữ đó sao? Cuốn từ điển Danh Từ Khoa Học của Giáo sư Hoàng Xuân Hãn được soạn vào khoảng thập niên 40 của thế kỷ 20 đó chớ gì? Cuốn Từ Điển Tiếng Việt đầu tiên cho người Việt dùng chỉ mới được biết đến rộng rãi vào khoảng thập niên 50 thế kỷ trước chớ mấy([3]). Chỉ mới phát triển trong ngần ấy năm thì làm sao tiếng Việt giàu có ngay được bằng các ngôn ngữ khác đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử? Được như thế này chỉ trong ngần ấy năm, tiếng Việt đã bước đi bằng đôi hia ngàn dậm, chớ không chỉ đôi hia bẩy dặm. Ta phải tự hào với điều đó mới phải chứ? Sao lại than phiền biếm nhẽ? Chê tiếng Việt nghèo nàn là cố chấp một cách không đúng. Ngày xưa, thạc sĩ văn phạm Pháp Phạm Duy Khiêm([4]) đã mắc phải sự thiển cận đó. Nhiều người đã giận dữ cho là ông xúc phạm niềm tự hào dân tộc. Tôi cho là ông thiển cận.
Thế trong suốt lịch sử dân tộc cho đến trước các thập niên 40, 50 của thế kỷ trước tiếng Việt đã “ngủ đông” à? Gần như vậy. Trong suốt lịch sử, giai cấp trí thức thượng tầng của xã hội liên tục và nhất quán từ chối tiếng nói của tổ tiên mình. Bị Tàu đô hộ thì họ nói tiếng Tàu, viết chữ Tàu. Thoát khỏi sự đô hộ của Tàu rồi họ vẫn tiếp tục dùng chữ Tàu trong mọi văn kiện chính thức của triều đình, và cả trong văn học, coi chữ Tàu là “chữ ta”, “chữ thánh hiền”, và coi ngôn ngữ nước nhà là nôm na mách qué. Tiếng Việt chỉ được bảo tồn trong giai cấp bình dân, dân quê ít học, ở nơi “thôn cùng xóm vắng”. Trong điều kiện đó, tiếng Việt phải trong tình trạng “tiềm sinh” chờ thời sống lại, chớ làm sao phát triển bằng người được? Ngay mới vừa rồi đây, tham dự Ngày Thơ Việt Nam trong chương trình Liên hoan Thơ Châu Á – Thái Bình Dương, (1/2 – 7/2/2012) tôi đã thấy ngay trong khuôn viên Văn Miếu Quốc Tử Giám ở Hà Nội người ta còn phô trương những dãy chữ Hán thật to kết bằng hoa cỏ cho người dân thưởng thức. (xem hình)
Ngày nay còn bao nhiêu người Việt đọc được thứ chữ này? Trí thức của ta như thế đó.
Dưới thời Pháp thuộc, giới trí thức toàn nói tiếng Tây; tiếng Việt là dành cho cu li. (Nhưng ngay cả cu li cũng phải nói tiếng Tây mới có được công ăn việc làm.)
Bây giờ là tiếng Mỹ. Nhìn vào đâu cũng thấy tiếng Mỹ. Trong một bịch kẹo “nội hóa” bán cho trẻ con ở thôn quê cũng in mọi điều quảng cáo bằng tiếng Mỹ. Một cửa hàng bán dụng cụ làm bếp dù không nằm trong trung tâm thành phố cũng xài toàn tiếng Mỹ từ trong ra ngoài. Lẽ nào du khách ngoại quốc tìm đến VN và “đi xe ôm” ra rìa thành phố, tới cửa hàng đó để mua xoong nồi mang về nước?  Ngay cả các UBND xã huyện tỉnh là để phục vụ người Việt Nam đều được ghi kèm tiếng Mỹ. Lối thoát hiểm của một số cơ quan, bệnh viện, siêu thị đều có gắn biển đề chữ EXIT. Khi có hỏa hoạn, người Mỹ thì biết đường chạy, còn người Việt không biết tiếng Mỹ thì sao? Nhưng có người Mỹ nào đến những nơi ấy không? Họ đến đó để làm gì?
Đó, giới có ăn có học của ta đối xử với tiếng mẹ đẻ như vậy đó, Quên điều này, quên tình trạng “thứ yếu”, “thổ dân thổ ngữ” của tiếng Việt, mà đặt ra câu hỏi “vô ý” như trong email trên đây e là làm cho ngôn ngữ của tổ tiên phải mũi lòng.
Hôm nay, là Thế Kỷ 21, dân tộc Việt Nam không phải là trẻ con”. (email). Phải, càng không là trẻ con, khi dân tộc đó hàng chục ngàn năm trước đã sáng tạo chữ viết trước cả người Tàu, và nhờ thứ chữ viết đó mà người Tàu phát triển thành hệ thống văn tự của họ. Nếu phát hiện này được khoa học xác nhận, thì không ai có thể ngủ được cả. Nhất là người Tàu. Họ sẽ mất ăn mất ngủ trước hết.
Khi thông tin này được chính người Tàu đưa ra, thì tính chất quan trọng của nó là rất lớn. Chắc chắn là họ đã cân nhắc và ý thức rõ sức công phá dữ dội của sự kiện này đối với lâu đài văn hóa nhiều ngàn năm của họ. Họ phải biết hậu quả của sự kiện này là thế nào. Cả một lâu đài văn hóa của họ rực rỡ mấy ngàn năm mà họ rất tự hào, bỗng chốc hóa ra đồ vay mượn. Tại sao họ lại có thể “bịa” một chuyện như thế này để ru ngủ chúng ta?

Thiếu Khanh.
 
[1] Trong một bài viết mới đây ông Hà Văn Thùy bác bỏ thuyết chữ Việt bộ Tẩu vẽ hình người Việt thất trận bỏ chạy, và giải thích hàm nghĩa của chữ Việt này  là người Việt cầm vũ khí tiến lên để chiến đấu.  Có lẽ tôi thích cách giải thích của ông Thùy. Rất tiếc tôi không nhớ đường dẫn bài viết ấy.
[2] Định nghĩa “vương đạo” trong bài Văn Hóa Việt Nam là của Dân tộc Việt Nam, đã dẫn trên.
[3] Cuốn Từ Điển Tiếng Việt đầu tiên là Tự Điển Khai Trí Tiến Đức được xuất bản từ năm 1931, nhưng phải đến lần in vào năm 1954 thì mới được nhiều người biết đến.
[4] Bằng Thạc sĩ này của Pháp là trên (sau) Tiến sĩ, chớ không phải dưới Tiến sĩ như cách dùng ngày nay.